Xem tất cả:

General (7) Literature (0) Music (0) Movies (0) 



RECENT POSTS




 RSS


Giếng làng

  Phan Xuân Hòa đưa lên  September 20, 2009 4:45 as General


LỜI CẢM ƠN

٭   ٭  ٭

Xin chân thành cám ơn trường Đại học Nghệ thuật, phòng quản lý và nghiên cứu khoa học đối ngoại Đại học Nghệ thuật Huế đã tạo điều kiện cho tôi bước vào con đường nghiên cứu khoa học.

Xin cảm ơn thầy Phan Xuân Hòa đã hướng dẫn tận tình, chu đáo bằng cả tấm lòng nhiệt huyết để tôi sớm hoàn thành đề tài.

Nhưng đây chỉ là phần thô còn cái tinh của nó còn ở phía sau thời gian… để làm được đều ấy tôi xin hứa sẽ cố gắng không ngừng học tập, tìm tòi nghiên cứu, sáng tạo… để sớm thành hiện thực.

Vậy tôi mong được sự quan tâm đóng góp giúp đỡ, đánh giá trung thực khách quan của hội đồng khoa học về ưu - khuyết qua đề tài này. Để tôi có điều kiện góp phần nhỏ bé vào sự nghiệp học tập và nghiên cứu…

Xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên thực hiện:

Trương Trần Đình Thắng (Khóa 29)

 

I. PHẦN MỞ ĐẦU

        Từ xa xưa, cây đa, giếng nước, sân đình đã trở thành biểu tượng của làng quê Việt Nam. Giếng làng là nơi các thôn nữ ra gánh nước, soi mình làm duyên, nơi trai gái tâm tình hò hẹn. Nơi giao lưu gặp gỡ của những người dân nơi làng quê mỗi khi ra gánh nước về dùng. Nông thôn Việt Nam xưa phần nhiều là nhà tranh, do đó rất ít nhà có bể nước mưa, người làng chủ yếu dùng nước giếng công cộng để nấu ăn. Cái giếng tượng trưng cho sự trong sạch, mát mẻ, giúp quên đi sự mệt nhọc và cái khát. Trong cái tổng thể của văn hóa làng quê bình dị mà lung linh huyền ảo ấy, cây đa có thần, mái chùa có phật thì giếng nước là sự tượng trưng cho sự dồi dào sung mãn và cho nguồn gốc của sự sống. Đối với trong tâm thức của mình, người Việt có thể sống thiếu hạt gạo mỗi khi giáp hạt, thiếu áo mặc mỗi khi mùa đông giá rét, nhưng không thể thiếu cái giếng nước. Giếng không chỉ là mắt của đất, nó còn là trái tim của làng, là cái hồn của xóm.

        Vài chục năm trở lại đây, nông thôn từ ngày ngói hóa, thì nhiều nhà đồng thời cũng có bể nước mưa, và khi triển khai phong trào nước sạch nông thôn thì nhà nhà có giếng đào và giếng khoan, do đó nhiều nơi những chiếc giếng làng bị lãng quên và rồi san lấp để lấy mặt bằng xây dựng.

        Ngày nay giếng làng còn ít và cũng ít giá trị thực dụng, nhưng giá trị văn hóa của nó lại  càng in đậm trong tâm thức của mọi người dân của làng quê, vì thế nó cứ lung linh tỏa sáng.

I.1/ Lý do chọn đề tài

        Chẳng phải ngẫu nhiên mà hình ảnh cái Giếng Làng cứ đi về trong nỗi nhớ của những người xa quê. Cái giếng đã có mặt trong đời sống của người Việt từ lâu lắm rồi, ít nhất thì trong truyện cổ tích, nó đã hiện hữu để Cô Tấm nuôi con cá Bống còn sót lại như nuôi giữ cái khát vọng hướng thiện của con người. Giếng đã đi từ huyền thoại, khi Trọng Thủy gieo mình tự vẫn để giải oan tình yêu cho Mị Châu, qua những câu thơ phồn thực mang đầy ám ảnh của Xuân Hương nữ sĩ, đến tận ngày nay.

Giếng nước là nơi tụ hội nguồn sống, là nơi tích phúc để dân làng ăn nên làm ra, và do đó nó là nơi của niềm hoan lạc thú. Trong sinh hoạt đời thường, người ta lấy nước giếng về dùng trong sinh hoạt như nước mưa, nó ngọt lịm khoan khoái và mát lành, làm dịu cơn khát và góp phần tạo nên những bữa ăn hàng ngày. Giếng nước còn là chiếc gương lớn để các cô gái ra gánh nước thì tranh thủ soi mình làm duyên. Và vì thế bên Giếng Làng là nơi thường diễn ra những cuộc hò hẹn ân tình lứa đôi. Ngày nay với phong trào nước sạch nông thôn thì nhà nhà đều có bể chứa nước mưa và nước máy thì dần dần cái Giếng Làng không còn cái giá trị thực dụng ngàn đời của nó và đi dần vào sự quên lãng.

I.2/ Mục đích nghiên cứu

        Ngày còn bé, Tôi vẫn được mẹ và bà ngoại đưa đi tắm ở giếng làng. Bọn trẻ chúng tôi vẫn hay ngồi tựa lưng vào thành giếng, bên cái Giếng Làng là nơi hội tụ của nền văn hóa nông thôn làng quê Việt Nam xưa, nơi con người, cộng đồng luôn gắn bó gặp gỡ trao đổi công việc, giao lưu tình cảm.

        Tìm hiểu về Giếng làng với mục đích tìm hiểu  làm rỏ những giá trị văn hóa đã hội tụ và tồn tại xung quanh cái giếng làng.

        Tìm hiểu và nhìn nhận lại thực trạng, tìm ra tương lai khôi phục và bảo tồn lại giếng làng nơi hội tụ những nét văn hóa, giá trị lịch sử của làng quê đã và đang mai một theo năm tháng.

I.3/ Giới hạn đề tài

        Đề tài chủ yếu khảo sát các giếng làng đã và đang tồn tại trong các làng quê Việt Nam.

        Tìm hiểu những nét văn hóa của cộng đồng người Việt diển ra xung quanh cái Giếng làng.

        Tìm hiểu về thực trạng của các giếng làng và các biện pháp bảo tồn và gìn giữ.

I.4/ Phương pháp nghiên cứu

        Sưu tầm và tổng hợp ảnh và tư liệu về các giếng làng đã và từng tồn tại trong các làng quê Việt Nam.

        Sưu tầm và tổng hợp ảnh và tư liệu về các giếng cổ đã và từng tồn tại trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

        Sưu tầm những nét văn hóa làng quê Việt Nam gắn liền với hình ảnh “Cây đa - Giếng nước - Mái đình”.

        Tìm hiểu và tiếp thu, sưu tầm các câu chuyện văn hóa, sự kiện của các làng quê có giếng làng đã hoặc đang còn tồn tại đến ngày nay.

I.5/ Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

        Tìm hiểu thực trạng của các Giếng làng cổ của các làng quê Việt Nam.

        Tìm hiểu nét văn hóa của làng quê Việt Nam gắn liền với hình ảnh “Cây đa - Giếng nước - Mái đình”. Bảo tồn, phục dựng hình ảnh, vị trí của các giếng làng.

         Khôi phục nét văn hóa dân gian làng quê nơi trở về gợi nhớ ký ức ngày xưa của những con người xa xứ.

 

II. PHẦN NỘI DUNG

 

II.1/ Giếng làng vị trí và cấu trúc

1.1. Vị trí xây dựng giếng ở trong các làng quê

        Giếng làng tồn tại trong nếp sống sinh hoạt có từ xa xưa của cư dân người Việt. Hầu như làng nào cũng có ít nhất một giếng. Vị trí xây dựng giếng thường là ở trung tâm của làng, nơi hội tụ đông đảo của một quần thể dân cư sinh sống. Gắn liền với quần thể hình ảnh “Cây đa - Giếng nước - Mái đình”. Theo giáo sư Ngô Đức Thịnh, nguyên viện trưởng viện văn hóa dân gian, thì chiếc giếng làng của đồng bằng Bắc bộ nằm trong quần thể không gian kiến trúc đình chùa.

        Để có được nguồn nước dồi dào, trong sạch, người ta phải chạm được vào “túi” nước. Người xưa đào giếng ăn theo mạch dọc chứ không theo mạch ngang của đất, vì mạch dọc mới chạm được vào túi nước, còn mạch ngang thì nước đục và không nhiều. Để thăm mạch ngầm khi đào giếng, người ta chọn buổi tối ngày khô trời, dùng những cái bát ăn cơm úp lên mặt đất. Sáng ra, bát nào có nhiều hơi nước nhất là nơi mạch nước mạnh nhất, có thể đào giếng. Giếng ở đồng bằng độ sâu chỉ chừng 6-8m. Giếng ở vùng trung du chiều sâu ít nhất phải là ba tay gầu, mổi tay dài chừng 8m.

1.2  . Cấu trúc và chất liệu xây dựng giếng

        Ở đồng bằng Bắc Bộ xưa, làng nào cũng có vài ba cái giếng, nhưng không phải nước ở giếng nào cũng giống nhau. Cái giếng cũng có danh phận của nó. Về hình dạng thì giếng có nhiều loại nhưng phổ biến nhất vẫn là các hình cơ bản như hình tròn, hình vuông, hình chử nhật và hình bán nguyệt...

Cấu trúc xây dựng của giếng thường có các loại chính là giếng đất, giếng gạch, giếng đá ong hoặc bằng các loại đá khác.

1.3. Hình dáng, kích thước và kỷ thuật xây dựng cơ bản

1.3.a Đất








Giếng đất là kiểu giếng được xây dựng cổ xưa nhất, với hình ảnh ban đầu là những ao tù nước động trong cộng đồng được giữ gìn thả bèo sạch sẽ để lấy nước dùng trong sinh hoạt hằng ngày, với rất nhiều hình dáng, kích thước, và kỷ thuật xây dựng cũng rất đơn sơ. Những khi hạn hán người ta thường đào những hố giếng sâu và được đắp đất cao ở miệng giếng cho sạch sẻ, giếng đất thường không có thành giếng hoặc thành giếng được xây dựng rất thô sơ, ở bên trông thành giếng người ta thường giữ lại các cây dương xỉ  để tránh xói mòn và lở xung quanh thành giếng.


1.3.b. Gạch

Giếng gạch được xây dựng  bằng cách xếp gạch từ dưới lên và phần thành giếng cũng được xây bằng gạch. Ngoài ra ở một số giếng phần âm được xây bằng đá tổ ong, và phần thành giếng được xây bằng gạch,  hiện nay các nhà khảo cổ học nước ta phát hiện ra rất nhiều giếng được xây dựng bằng gạch ở trong các khu vực khảo cổ của nước ta nhất là ở khu vực Hoàng thành Thăng Long  (Hà Nội).

1.3.c. Đá










Hiện nay chúng ta còn lưu giữ được rất nhiều giếng được xây cất bằng đá, chủ yếu các giếng được xây dựng bằng đá học hoặc đá cuội và đá tổ ong. Được sắp xếp một cách khoa học và cẩn thận từ dưới lên, các giếng này thường có kích thước rất lớn và thường được xây dựng bằng hình vuông hoặc hình tròn, là nơi tập trung sử dụng cho nơi có mật độ dân cư tập trung quần cư đông đảo.

Ngoài ra hiện nay vẩn còn lưu giữ trong dân gian một số giếng cổ có cấu trúc xây dựng rất đặc biệt. Một số giếng là những hóc đá tự nhiên có nước chảy quanh năm, các giếng này thường gắn liền với những huyền thoại hoặc những câu chuyện dân gian từ xa xưa. Hoặc hiện nay ở chùa Phổ Minh (Nam Định) ngoài cặp giếng đất cân đối ở trước sân chùa, phía sau chùa còn phát hiện khẩu giếng cổ mà thân giếng được xếp bằng những chiếc vại đựng vôi đảm bảo cho nước luôn trong và sạch. Còn ở Chùa Keo (Thái Bình) có khẩu giếng bên cạnh điện thánh, thân giếng được xếp bởi những chiếc cối đá bị thũng, truyền là cối dùng để giã gạo trong khi dựng chùa.

II.2. Thuật phong thủy trong việc chọn vị trí xây dựng giếng làng

2.1. Mối tương quan của vị trí giếng và tổng quan làng Việt

        Từ ngàn đời nay cuộc sống và sự tồn tại con người luôn luôn gắn liền với đất và nước, nguồn nước là một phần tất yếu để con người tồn tại và sinh sôi, vì vậy việc xây đựng giếng làng luôn là một công việc rất quan trộng đòi hỏi người thợ phải có một vốn kiến thức và am hiểu sâu rộng về địa lý và thuật phong thủy của người phương đông. Từ việc chọn vị trí, cách thức xây dựng và hình thức tổng quan của giếng.

        Giếng làng được coi là nguồn tụ thủy, tụ phúc của cả làng để làng ăn nên làm ra, ở các làng quê dân cư quanh vùng coi là một huyệt đan sa rất linh thiêng. Giếng làng thường được xây dựng nơi trung tâm của làng , nơi quần tụ của dân cư. Cái giếng giữ phần âm của làng. Bản thân cấu trúc hình tròn của nó cũng là một hình thuộc về âm, chiều sâu của giếng đi vào lòng đất cũng là âm. Cái vị tanh hơi ngọt và có độ lạnh của nước giếng hiếm khi được tiếp xúc với ánh nắng mặt trời cũng là âm. Vì vậy trong tâm thức người Việt, giếng không chỉ là con mắt của đất, nó còn là trái tim của làng, cái hồn của xóm. Theo giáo sư Ngô Đức Thịnh thì chiếc giếng làng của đồng bằng Bắc bộ nằm trong quần thể không gian kiến trúc đình chùa. Có một số cặp giếng làng được người xưa tương truyền lại rằng đó là cặp mắt của con rồng ở trong ngôi làng, sự hưng thịnh thăng trầm của người dân làng đó nhiều khi cũng bắt nguồi từ cái giếng làng quê yên ả ấy.

2.2. Phong thủy trong hình dáng tổng thể của giếng

        Trong các làng quê Việt Nam có đủ các loại giếng, và đủ các hình dáng của giếng, nhưng nhìn một cách tổng thể thì người dân khi xây dựng miệng giếng hình tròn thì sẻ xây dựng nền giếng hình vuông và ngược lại. Miệng giếng được xây thành cao để tránh cho người và súc vật bị rơi xuống giếng, còn nền giếng được đắp cao để tránh nươc bẩn và bùn đất chảy xuống. Ngoài ra Vuông và Tròn cũng là cách nhìn nhận của người xưa là hình ảnh của trời và đất, trời tròn đất vuông, của sự sống và sự cân bằng của vạn vật.

II.3. Giếng làng trong đời sống làng quê người Việt








Ngày xưa làm gì có giếng khoan, giếng đào và nước máy như bây giờ, người ta chỉ biết dùng nước mưa, nước sông, nước ao hồ và những chiếc giếng làng, vì vậy giếng làng có một tầm quan trộng rất lớn trong đời sống  làng quê, tất cả mọi công việc người ta đều dùng đến nước giếng. Trở lại thời gian khoảng 20- 30 năm trở về trước chắc hẳn đâu đâu rạng sáng hoặc chiều tà ta bắt gặp hình ảnh những người dân đi gánh nước về dùng trong sinh hoạt. Khi còn nhỏ tôi cũng thường được Bà ngoại dắt đi lấy nước cùng, người ra giếng gánh nước thường là đàn bà, con gái. Mỗi người mỗi đôi thùng được móc bởi hai cái móc sắt. Thứ móc sắt này cộng nhỏ như cây đũa tre, mỗi móc được nối với hai đoạn ngắn, để khi gánh thùng nước không bị lắc, bị chao mạnh làm bắn nước ra ngoài. Vậy mà các bà các cô vẫn thường bỏ lá tre vào thùng, để giảm bớt sự sóng sánh làm mất đi nhưng giọt nước quý mà trời đất ban cho. Nhìn cảnh nhộn nhịp nơi cái giếng ta mới thấy được tầm quan trọng của nó lúc bấy giờ. Giếng trở thành tâm điểm của làng, người ta ra giếng lấy nước tranh thủ hỏi nhau về công điểm, về lứa lợn, về chuyện con nhà ông nọ làm đám cưới bao nhiêu mâm, con gái bà kia lấy chồng tốt số....Trai gái làng ra giếng tranh thủ chọc ghẹo nhau hay hẹn hò. Cái giếng làng đã chứng kiến không biết bao nhiêu lần hò hẹn, bao nhiêu cuộc tình, của biết bao thế hệ. Không hiểu nếu nó biết nói nó sẻ nói gì về nhân duyên. Lâu lâu có một vài người đi đường ghé qua  mượn ai đó cái gầu để rửa mặt, vậy là thêm những chuyện mùa màng, chuyện hàng tỉnh, những câu chuyện quanh thành giếng tưởng chừng như không bao giờ dứt.Nước giếng từ ngàn đời nay đều có một đặc điểm đó là mát về mùa hè và ấm vào mùa đông và tùy nơi mà đôi khi có những đặc điểm kỳ lạ khó tin. Cuộc sống quần cư bên cái giếng ai ai cũng có ý thức rất tốt về giữ vệ sinh chung của giếng, người dân rất ít khi ra tắm giặt ở bên thành giếng, mà thường họ gánh về tắm giặt ở nhà, hoặc có đôi khi tắm cho những đứa trẻ nhỏ hoặc giặt dũ họ tránh rất xa ra khỏi thành giếng, thỉnh thoảng mới thấy một vài cô xắn quần lên rửa đôi tay, đôi chân trắng trẻo. Ấy cũng là sự điểm xuyến cho sắc màu vào những chiều êm ả. Và tình cảm xóm làng cũng ngày càng gắn chặt và gần gũi nhau hơn. Vào những đêm trăng, lũ trẻ thường kéo nhau ra ngồi quanh thành giếng, kháo nhau đủ chuyện trên đời. Những đêm trời nóng nực, đôi khi chúng tôi còn nằm lăn ra trên nền đá quanh thanh giếng ngữa mặt lên trời tìm sao thần nông, sao gàu sòng, sao con vịt... Những đêm trời có nguyệt thực lũ trẻ con vẫn thường dùng một thau nước giếng để ngắm nguyệt thực cho đã trí tò mò. Có một số giếng lấy nước dùng để om chè xanh hoặc pha trà thì ngon không gì bằng đó là một sở thích rất đặc biệt mà cho đến giờ vẫn nhiều người không thể thiếu.

II.4. Giếng làng trong văn hóa làng quê người Việt











Giếng làng là nơi hội tụ của cả làng, là nơi giao lưu tình cảm, tình làng nghĩa xóm, nơi văn hóa cộng đồng được gắn chặt. Giếng hòa  nhập vào bóng râm của những cây cổ thụ, hoặc làm mặt gương soi bóng một ngôi đền, hoặc chùa rêu phong cổ kính. Giếng bên cạnh đền gọi là giếng đền, bên cạnh chùa gọi giếng chùa. Có những cái giếng chỉ cho phép lấy nước ăn và nước pha trà. Giếng làng Dục Tú (Đông Anh), giếng Bảo Hà (Nam Định), giếng xóm Hạ (Phủ Lý) là những cái giếng vừa đẹp vừa ngon nhóc, nổi tiếng khắp vùng. Người ta kháo nhau: “Ăn nước giếng làng Hạ, con gái làng cứ nõn nà ra. Con gái làng này đắt chồng nhờ giếng”. Nhưng cái giếng cũng bị oan: “Mắt toét là tại giếng đình, cả làng toét mắt, riêng mình em đâu”....Câu “ Êch ngồi đáy giếng” chỉ con người chẳng biết cái gì. Hoặc rủ nhau làm những chuyện không hay ho gì gọi là dắt nhau xuống giếng....

        Trẻ em có những câu đố về cái giếng: “Vừa bằng cái nong cả làng đong không hết”. Cái giếng mang lại nổi nhớ nhung: đi xa về, không thấy người củ, giếng đá, trăng vàng, em ở đâu?. Có nhiều cái giếng được đi vào truyền thuyết và thơ ca, chúng ta hảy nhớ lại cái giếng Cổ Loa còn gọi là giếng Mỵ Châu - Trọng Thủy. Cái giếng này hảy còn đến tận ngày nay. Nó đã trải qua hơn 2000 năm và cứ luôn luôn được nhắc tới với một tấm lòng trân trọng và bâng khuâng. Nhà thơ Á Nam Trần Tuấn Khải đã viết về nó:

Nỏ thiêng hờ hững đầy oan nghiệt

Giếng ngọc đầy vơi giọt lệ phai...

   Giếng của nữ sĩ Hồ Xuân Hương là cái giếng đặc biệt.

Ngõ ngàng thăm thẳm tới nhà ông

Giếng tọt thảnh thơi, giếng lạ lùng

Cầu trắng phau phau, đôi ván ghép

Nước trong leo lẻo, một dòng thông

Cỏ gà lún phún leo quanh mép

Cá diếc le te, lách giữa dòng

Giếng ấy thanh tân, ai chẳng biết...

Đố ai dám thả nạ dòng dòng

        Cái giếng xưa cũng chứng kiến đầy bi kịch. Đôi trai gái thề thốt gắn bó với nhau bên bờ giếng. Thề ở đình, ở miếu không quyết liệt như thề ở giếng. Nếu họ phụ nhau hoặc không lấy được nhau, sẻ có một người trong họ hoặc cả hai gieo mình xuống giếng. Và tất cả những bí mật trong tình sử của họ chỉ còn cái giếng không biết nói biết được mà thôi.

        Ở đình Ngô Nội (Bắc Ninh) có bức chạm từ cuối thế kỉ 17, trong bức cốn gỗ ở trên cao, nghệ sỹ xưa chạm cảnh cô gái làng ra giếng gánh nước, đôi quang thúng nước và chiếc đòn gánh còn gác trên thành giếng, cô gái gặp người tình và hai người đang ân ái thì bị người khác thổi ống xì đồng làm chết. Họ chết vào giờ thiêng, được dân làng ghi hình và thờ cúng. Nhiều đôi trai gái nên duyên vợ chồng cũng từ cái giếng nước mà ngõ lòng mình. Lúc thì í ẹ: “Năng mưa thì giếng năng đầy, anh hay đi lại mẹ thầy năng thương”, lúc thì hờn dỗi: “Tưởng giếng sâu nối sợi dây dài, hay đâu giếng cạn tiếc hoài sợi dây”, lúc lại phân bua “tới đây dây vắn gầu thưa, hỏi người cố cựu giếng xưa ai đào. Giếng này là giếng cựu trào, hồi tôi còn nhỏ tôi nào biết đâu.

II.5. Giếng làng trong tâm linh con người Việt Nam

        Người ta hay nói với nhau rằng góc đa bến nước con đò là để chỉ hình ảnh quê hương thân thiết, gắn liền với bao kỷ niệm của người xa quê. Cái giếng là một hình ảnh rất gần gủi và thân thiết với cuộc sống nó luôn ăn sâu vào hình ảnh và tâm trí của mỗi con người làng quê xưa. Trông  tâm trí của người dân có nhiều cái giếng rất thiêng, thiêng hơn cả là những chiếc giếng từ buổi đầu dựng nước. Trên núi Trân Sơn (Bắc Ninh) có vạt núi đá được gọi là “ Giếng Việt”, các khe đá nứt từ đó tỏa ra xung quanh, trên cao nhìn xuống như hình cửa mình bà mẹ xứ sở khổng lồ. Và có lẻ vì thế mà giếng luôn là biểu trưng của âm tính với nước thiêng nguồn sống vĩnh hằng. Còn trong khu đền Hùng (Phú Thọ), ở dưới chân núi phía đông nam có đền Giếng là nơi thờ tự Công chúa Ngọc Hoa (sau lấy Sơn Tinh) và công chúa Tiên Dung (sau lấy Chử đồng Tử), hiện vẫn còn khẩu giếng tương truyền là gương soi của hai nàng Công chúa con Vua Hùng thứ 18. Trong khu thành cổ loa (Hà Nội) trước đền Thượng vẫn còn khâu giếng ở giữa hồ, tương truyền nơi hồn Mị Châu đã hiện hình để dụ dỗ cho Trọng Thủy nhảy xuống, dân địa phương bảo để trả mối trù bị lừa lấy mất nỏ thần, song văn học dân gian lại ghi nhận mối tình đôi lứa thủy chung.

        Ở vùng Dâu, Bắc Ninh hiện cũng còn giữ được một giếng nước không có thành cao. Tương truyền, đây là chổ bà Man Nương cắm cây gậy của Đại sư Đà La cho mà tạo nên nguồn nươc chống hạn. Ngày nay, nước giếng nầy vẫn còn trong vắt và không bao giờ cạn. Cũng ở Bắc Ninh, trong khu chùa Phật Tích, vẫn còn dấu tích 3 giếng cổ, có từ thời Lý, khi mới dựng chùa. Một giếng ở thành núi phía sau chùa, được kè đá, có những bậc đẫn xuống lấy nước, trên sân trước của chùa cũng có một giếng nước, ở đáy giếng có một tượng đầu rồng, từ đây nước tuôn ra, tát mấy cũng không cạn. Còn ở dưới ao chùa gần đây mới phát hiện một khâu giếng mà ở đáy có một số đồ đất nung vốn dùng trang trí cho kiến trúc cổ xưa.

        Ở Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Tây, hiện còn một giếng nước huyền thoại. Đó là giếng xin sữa, dù chỉ nhỏ như vành nón, mà cả ngàn năm nay giếng vẫn đầy và trong vắt, từ đời này qua đời khác người ta truyền câu chuyện từ xa xưa, những bà mẹ ở Đường Lâm thiếu sữa nuôi con đến bên giếng làm lễ xin sữa, rồi xin một ít nước uống vào, là có đủ sữa cho con bú. Những bà mẹ trẻ ngày nay vẫn làm như vậy.

        Ở Thượng điện của Linh Tiên Quán, Hà tây, có một giếng nước đặc biệt mà cư dân quanh vùng  coi là một huyệt đan san rất linh thiêng, quanh năm nước trong , ngọt và múc mấy cũng không cạn, người ta vẫn lấy nước ở đây cúng tế thần tiên. Giếng nước là nơi hội tụ nguồn sống, là nơi tích phúc để dân làng ăn nên làm ra. Bàn thờ gia tiên ở trong nhà dân hay bàn thờ thần thánh ở đền, đình đều không thể thiếu được bát nước mưa hay nước giếng. Trước ngày hội làng, bài vị và ngai thờ Thành Hoàng đều được mục dục (lau chùi) bằng nước giếng hay nước sông. Và nếu hội có thi nấu cơm hay thi làm cổ thì đều lấy nước từ giếng làng.

        Giếng làng trở thành biểu tượng thiêng liêng trong tâm thức cộng đồng. Trên bờ, người làng thường xây một bệ thờ lộ thiên hoặc miếu nhỏ để tỏ lòng thành kính. 

II.6. Giếng làng lịch sử và tương lai

6.1. Các giếng làng nổi tiếng trong dân gian của làng quê Việt Nam

        Làng Giang Xá (Hà Tây) ngay trước cửa đền Lý Nam Đế có một khẩu giếng đất, mặt thoáng thường xuyên thả bèo ong giữ nước giếng luôn trong mát.

        Làng Hiệp Thuận (Hà Tây) đào trong cù lao nhỏ giữa hồ có đường thông ra, đang là nguồn nước sạch của nhiều nhà.

        Cũng có một số giếng ngày nay không còn giá trị sử dụng nhưng vẫn được địa phương giữ gìn sạch sẻ, chẳng hạn khẩu giếng ở đầu đình Đại Phùng (Hà Tây) bên dưới xây bằng những thỏi đá ong, còn thành giếng là cả một khối đá ong khoét rổng lòng, trong thật mộc mạc và đanh chắc, hay khẩu giếng ở trước nhà Tổ chùa Bút Tháp (Bắc Ninh) có thành giếng là một khối đá xanh khoét rổng lòng, phía ngoài tỏa chân ra nền sân giếng tạo thành một đóa sen nở rộ với những cánh hoa chạm khá cầu kỳ. Bảo tàng mỹ thuật đã phục chế khẩu giếng này trưng bày trong vườn cảnh như một di sản văn hóa quý.

        Sân chim Dâu (Bắc Ninh) còn khâu giếng không có thành cao, hình thức đơn giản, như truyền thuyết cho biết là lổ cắm cây gậy của nàng Man Nương được sư Khâu Đà La cho để chống hạn, nước rất trong và không bao giờ cạn, nhà chùa vẫn dùng trong sinh hoạt.

        Làng Thượng Hội, xã Tân Hội, huyện Đan Phượng còn nguyên ba giếng cổ ở đầu, giữa và cuối làng. Chiếc ở đầu làng hình vuông, tượng trưng cho đất mẹ, chứa muôn ngàn tia sữa, nuôi dưỡng con người và soi bóng ngôi chùa cổ kính. Giữa làng, giếng xây tròn vành vạnh, dân thôn coi đó là hình mặt trời để ngày ngày luôn có ánh dương toả chiếu, hoà khí của âm dương cho con người hạnh phúc. Ở cuối làng là chiếc có hình bầu dục, như một tấm gương lớn khúc xạ ánh mặt trời, phản chiếu điều lành soi sáng cho cả làng. Giếng được xây gạch cẩn thận, có bậc lên xuống để gánh nước, tường xây gạch bao quanh, bệ thờ thần giếng vững chắc.

        Huyện Hoài Đức có vùng quê xưa là Kẻ Giá, nay là xã Yên Sở, còn gọi làng Dừa, từ xưa có câu: “Đình không xà, làng bảy mươi ba cái giếng”. Hiện, xã chỉ còn trên 20 cái giếng cổ. Mỗi cái có một phiến gỗ lim dày, to lát đáy, xung quanh xếp đá quây tròn, không có hồ vữa mà vẫn chắc chắn. Giếng sâu độ 4 - 5 m, phía trên xây gạch vòng quanh. Cạnh đó có miếu thờ thần linh. Vào ngày mồng một, rằm hàng tháng, người dân mang lễ vật dâng cúng, cầu may.

        Quán Linh Tiên ở Cao Xá (Hoài Đức) được tu tạo từ đời nhà Mạc (1584) tiêu biểu cho một quán Đạo giáo. Trên thượng điện là tượng Tam Thanh gồm: Thái Thanh, Thượng Thanh, Ngọc Thanh; phía dưới là các tượng Cửu Thiên, Huyền Mẫu và Trấn Vũ Thánh… Đặc biệt là trong hậu cung của quán còn một hố giếng sâu, tục truyền là huyệt đan sa, vốn là lò luyện đan trường sinh bất tử của các đạo sĩ. Đến nay, nước giếng vẫn tinh khiết, dùng cúng lễ và ban lộc cho các tín đồ.

        Nước giếng cổ từ xưa được đề cao: “Cơm ăn mỗi bữa một trâu/Không bằng tắm nước ao Chầu Liều Viên/Cơm ăn mỗi bữa mỗi gà/Không bằng tắm nước Đường Hoa kẻ Ngườm”

       Chùa Phật Tích (Bắc Ninh) được dựng từ thời Lý, hiện còn dấu tích những 3 khẩu giếng cổ: khẩu giếng trên sườn núi phía sau được kè đá với bậc xuống từ phía sau, đáy ao từ một tảng đá tự nhiên được cham thành đôi rồng, nay tuy không còn nguyên vẫn nhận ra rỏ ràng, thư tịch xưa gọi là Long Trì. Trên sân bãi trước cửa chùa có khẩu giếng dưới đáy có tượng đầu rồng thời Lý rất diển hình, từ đây nước dù tát cạn lai phun ra rất nhanh, dưới ao chùa gần đó cũng phát hiện một khâu giếng nữa, dưới đáy có một số đồ đất nung vốn xưa được dùng trang trí trong kiến trúc.

        Chùa Giam (Bắc Ninh) trên nền chùa, phía sau cột đá chạm rồng cao hơn 5m vẫn còn giấu tích một khẩu giếng, dù ở phía bắc cột nhưng dân địa phương kể trong năm sẻ có một ngày bóng cột sẻ ngả vào giếng, biểu hiện cho sự trường tồn cho dân cho nước.

       Chùa Phổ Minh (Nam Định) ngoài cặp giếng đất cân đối ở sân trước chùa được truyền là cặp mắt rồng, phía sau chùa đã phát hiện khẩu giếng cổ mà thân giếng được xếp bằng những chiếc vại lớn đựng vôi đảm bảo cho nguồn nước luôn sạch.

        Ở chùa Keo (Thái Bình) có khẩu giếng bên cạnh điện thánh, thân giếng được xếp bằng những chiếc cối đá thũng, truyền là dùng để giã gạo trong khi dựng chùa.

        Trên núi Trân Sơn (Bắc Ninh) có vạt núi đá được gọi là “ Giếng Việt”, các khe đá nứt từ đó tỏa ra xung quanh, trên cao nhìn xuống như hình cửa mình bà mẹ xứ sở khổng lồ. Và có lẻ vì thế mà giếng luôn là biểu trưng của âm tính với nước thiêng nguồn sống vĩnh hằng. Còn trong khu đền Hùng (Phú Thọ), ở dưới chân núi phía đông nam có đền Giếng là nơi thờ tự Công chúa Ngọc Hoa (sau lấy Sơn Tinh) và công chúa Tiên Dung (sau lấy Chử đồng Tử ), hiện vẫn còn khẩu giếng tương truyền là gương soi của hai nàng Công chúa con Vua Hùng thứ 18. Trong khu thành cổ loa (Hà Nội) trước đền Thượng vẫn còn khâu giếng ở giữa hồ, tương truyền nơi hồn Mị Châu đã hiện hình để dụ dỗ cho Trọng Thủy nhảy xuống, dân địa phương bảo để trả mối trù bị lừa lấy mất nỏ thần, song văn học dân gian lại ghi nhận mối tình đôi lứa thủy chung.     

        Ở Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Tây, hiện còn một giếng nước huyền thoại. Đó là giếng xin sữa, dù chỉ nhỏ như vành nón, mà cả ngàn năm nay giếng vẫn đầy và trong vắt, từ đời này qua đời khác người ta truyền câu chuyện từ xa xưa, những bà mẹ ở Đường Lâm thiếu sữa nuôi con đến bên giếng làm lễ xin sữa, rồi xin một ít nước uống vào, là có đủ sữa cho con bú. Những bà mẹ trẻ ngày nay vẫn làm như vậy.

        Ở trong khu vực thành nội Huế có hai cái giếng cổ không ai là cư dân ở đó mà lại không biết và từng nghe nói tới đó là cái giếng sập ở ngã tư đường Âm Hồn và Tịnh Tâm và một cái trong công viên Tam Tòa gần cửa Thượng Tứ, lai lịch cái giếng vuông ở trong Tam Tòa thì có người biết chứ lịch sử cái giếng tròn trên đường Âm Hồn thì phải hỏi các cổ vật và xác người trăm năm vùi lấp dưới đó, may ra mới biết chủ nhân của nó là ai.

        Hiện tại người ta mới thống kê tại Huế có 28 giếng cổ, trong đó 24 giếng vuông đa số nằm trong khu vực Hoàng Thành, Tử cấm thành, lăng tẩm,... Thật ra thì giếng cổ ở Huế nằm trong các ngôi tự cổ có từ trước khi kinh thành Huế được xây cất, khi mà các chúa Nguyễn trên đường nam tiến, khi mà kinh đô Phú Xuân - Núi Bân nơi Quang Trung lên ngôi hoàng đế thống lĩnh đại quân tiến về Hà Thành đuổi quan Mãn Thanh ra khỏi bờ cõi...

Lòng giếng đã bị hoang hóa, rêu phong






6.2.Thực trạng của các giếng làng còn lưu giữ đến ngày nay

Ngày nay khi mà từ khi có giếng  khoan và nước máy thì giếng  làng đã bị hư hổng và lấp đi nhiều, giếng khơi cũng ít giữ lại.

        Cộng thêm điều kiện xã hội ngày càng đất chật người đông thì người ta lấp hết những chiếc ao làng để xây nhà xây chợ, những chiếc giếng làng cũng còn ít giá trị thực dụng, ít ai còn ra giếng lấy nước về dùng khi mà có nước máy vào tận nhà, giếng không còn được chăm sóc, bảo quản gìn giữ sạch sẻ, và bị hao mòn hư hỏng theo năm tháng.

        Hiện nay khi ta bắt gặp một số giếng làng cũng được nhân dân bảo quản cẩn thận xây dựng thành bao quanh, đến hàng tuần được người cắt cử vệ sinh sạch sẻ, nhưng bên cạnh đó vẫn có một số giếng không đươc bảo quảng tốt và không được quan tâm, thì ngày càng hư hỏng và tàn phá, bị người dân lấn chiếm,và phần lớn được dân trong vùng làm chổ đổ chất thải, rác thải. bị ô nhiểm nặng và ngày càng bị lấp dần.

        Ở một số giếng được bảo quản cẩn thận, người ta luôn vệ sinh sạch sẻ, các cây dương xỉ và rêu sống trong thành giếng người ta không nhổ đi mà để vậy nhằm tránh lở đất, người ta thường thả bèo tổ ông vào thành giếng, đám bèo này không chỉ chắn bụi ở trên xuống mà còn giữ lại cái váng đục của nước giếng mỗi khi trở trời. Để giữ vệ sinh cho giếng, người ta không thả cá, nhưng vẫn có một số loài cá sống tự nhiên trong lòng giếng, chủ yếu là loài ăn ngầm như rô ta, cá chuối. Mổi năm người ta tắm rửa cho giếng một lần, ấy là khi người ta thau giếng, vớt bùn ở đáy lên và rải thay vào đó một lớp cát dày chừng một gang.

6.3. Tương lai nào cho giếng làng

          Càng ngày giếng làng càng mất dần và vị trí của nó trong đời sống cũng càng ngày càng ít giá trị. Người dân càng ngày càng gắn bó với nước máy, và nguồn nước ngầm ngày càng cạn kiệt và bị ô nhiểm nặng. Một số nước trên thế giới ngày càng phải đối mặt với nạn ô nhiểm và thiếu nước sinh hoạt phải mua với giá cao, và có thể sẻ có một số quốc gia phải đối mặt với chiến tranh về nguồn nước trong tương lai gần.

        Tuy nhiên, trong những năm qua, nếu như các loại hình di tích khác được chú ý nghiên cứu, bảo tồn thì những chiếc giếng cổ này vẫn chưa được quan tâm đúng mức.

        Số phận của những cái giếng này tưởng như sẽ bị chôn vùi theo tốc độ đô thị hóa của đất nước. Rất nhiều người dân ở nhiều làng quê đã chuyển qua sử dụng nước máy cho… tiện! Thế nên, những chiếc giếng cũng bị người ta hờ hững như… “con ghẻ”! Không ít giếng đã bị san lấp, hoang phế.

        Vì vậy cấp thiết ngay từ hôm nay chúng ta phải cùng nhau chung tay góp sức giữ gìn những cái giếng làng cổ như giữ gìn nét văn hóa và là nguồn nước cho nhân dân cho chúng ta trong tương lai, một điểm đến và là nổi nhớ của người xa xứ khi nhớ về quê nhà.

Một số hình ảnh minh họa:

Dù có nước giếng khoan nhưng người dân trong làng vẫn lấy nước giếng Ngọc về ăn. (Ảnh NNGHIA)

 

Chỉ còn số ít người dân

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 







II. PHẦN KẾT LUẬN

             Ngày nay, đời sống vật chất và tinh thần ngày càng nâng cao. Từ giếng đất, giếng khơi rồi thay thế bằng giếng khoan, nước máy… Từ thành thị đến nông thôn các nguồn nước sạch phong phú, tràn trề. Tuy nhiên các giếng cổ vẫn tồn tại ở các vùng từ bán sơn địa đến đồng bằng. Số lượng các giếng cổ có ít đi nhưng giá trị của nó vẫn rất quý. Nước giếng cổ trong, sạch, mát vào mùa hè, ấm vào mùa đông. Giá trị tâm linh của giếng gắn bó tình cảm con người với tạo hoá. Có giếng cổ, cảnh quan môi trường càng đẹp, kỷ niệm tuổi ấu thơ bên giếng làng dễ mấy ai quên. Các di tích lịch sử - văn hoá có hình ảnh giếng cổ thì giá trị càng tăng.

Thay lời cho phần kết luận xin ghi ra đây những câu thơ tôi vừa sưu tầm được:

Hẹn nhau bên bờ giếng

Chờ nhau lúc rạng trăng

Nàng vân vê dải yếm

Chàng nắn sửa vành khăn

Dưới trăng vàng bối rối

Dưới trăng chàng băn khoăn

Nhìn nhau mà chẳng nói

Bốn mắt đọng trăng rằm.....

Hẹn nhau bên bờ giếng

Chờ nhau lúc rạng trăng

Trăng đến, nàng không đến

Chàng lo buồn đăm đăm

Nàng đã đi làng khác

Theo một người khăn đen

Không còn nghe giọng hát

Bên đình lúc nguyệt lên

Ai cúi mình bên giếng ?

Ai thả gầu múc trăng ?

Ai cười yêu nửa miệng ?

Tan rồi mộng gối chăn

Không hẹn bên bờ giếng

Không chờ lúc rạng trăng

Đêm đêm chàng vẫn đến

Bên giếng khóc âm thầm

Đêm nay chàng lại đến

Bên giếng khóc âm thầm

Bỗng gặp bên bờ giếng

Đôi bóng người dưới trăng

Nàng cũng vê dải yếm

Chàng cũng nắn vành khăn

Cũng nhìn nhau âu yếm

Bốn mắt đọng trăn

Giếng trăng nơi hò hẹn

Từ xa xưa đến bây giờ

Giếng làng ghi dấu bao trò hợp tan.

                                                                                                                                                                        

 


200$ Facebook Promotion no deposit Gedamo Investmen


 comments (0)



1 - 1 of 1


Các bài mới đăng gần đây:


Make money from home
Up to $150 per day. Weekly payment via Paypal.
Click Here...